Điểm mới của thông tư 48/2019/TT-BTC hướng dẫn trích lập và xử lý khoản dự phòng

ĐIỂM MỚI CỦA THÔNG TƯ SỐ 48/2019/TT-BTC HƯỚNG DẪN VỀ VIỆC TRÍCH LẬP VÀ XỬ LÝ KHOẢN DỰ PHÒNG
Ngày 08/08/2019 Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 48/2019/TT-BTC hướng dẫn việc trích lập và xử lý các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, tổn thất các khoản đầu tư, nợ phải thu khó đòi và bảo hành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, công trình xây dựng tại doanh nghiệp thay thế cho thông tư số 228/2009/TT-BTC. Vậy điểm mới của thông tư số 48/2019/TT-BTC là gì?
1. Tên gọi của Thông tư 48:
Ngay khi đọc tên gọi của thông tư, chúng ta dễ dàng nhận ra một điểm mới đấy là Thông tư số 48/2019/TT-BTC (sau đây viết tắt là TT48) có phạm vi điều chỉnh việc trích lập dự phòng rộng hơn so với TT228, cụ thể tên TT48 nêu “trích lập dự phòng …tổn thất các khoản đầu tư” nói chung chứ không phải chỉ trích lập dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tài chính, điều đó có thể được hiểu là khi các khoản đầu tư nói chung nếu xác định có tổn thất thì DN được phép trích lập dự phòng…
2. Quy định chung:
– Về Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1 TT48):
So với TT228 trước đây, TT48 đã bổ sung rõ ràng và khá đầy đủ về phạm vi điều chỉnh (TT228 không có) đồng thời cũng nói rõ việc trích lập dự phòng theo hướng dẫn tại thông tư này làm cơ sở xác định chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Đặc biệt, TT48 lần đầu tiên nói rõ sự tách biệt giữa việc trích lập dự phòng cho mục đích xác định nghĩa vụ thuế với mục đích lập và trình bày BCTC của DN. Theo đó, TT này chỉ phục vụ cho mục đích thuế, việc trích lập dự phòng cho mục đích lập và trình bày báo cáo tài chính thực hiện theo quy định của pháp luật kế toán.
– Về Giải thích từ ngữ (Điều 2):
+ TT48 đã nêu định nghĩa về dự phòng giảm giá hàng tồn kho giống với TT200, “dự phòng giảm giá hàng tồn kho: là dự phòng khi có sự suy giảm của giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn so với giá trị ghi sổ của hàng tồn kho.”
+ Như đã nói ngay phần tên gọi, TT48 đã định nghĩa rất rõ ràng về dự phòng tổn thất các khoản đầu tư, theo đó việc trích lập dự phòng không chỉ dành riêng cho các khoản đầu tư tài chính mà cho cả các khoản đầu tư khác của DN bị suy giảm giá trị;
+ Định nghĩa về dự phòng phải thu khó đòi: TT48 đã cho phép trích lập khoản dự phòng ngay cả khi khoản phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng có khả năng không thu hồi được đúng hạn.
+ Đối với định nghĩa về dự phòng bảo hành sản phẩm , TT48 đã điều chỉnh cụm từ công trình xây lắp thành công trình xây dựng đồng thời bổ sung việc trích lập dự phòng cả dịch vụ bảo hành.
Về Nguyên tắc chung trong trích lập dự phòng (Điều 3):
+ Tại TT48 hướng dẫn việc trích lập dự phòng làm cơ sở xác định chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp,
+TT48 Bộ Tài chính thống nhất thời điểm trích lập dự phòng và hoàn nhập các khoản dự phòng là thời điểm lập báo cáo tài chính năm thay vì theo quy định cũ là thời điểm cuối kỳ kế toán năm hoặc ngày cuối cùng của năm tài chính (khoản 2 Điều 3 Thông tư 228/2009/TT-BTC).
+ Tại TT48 bổ sung quy định các khoản đầu tư ra nước ngoài DN không được trích lập dự phòng, trước đây TT228 không rõ ràng, nhiều DN đã trích lập nên TT48 cũng đã hướng dẫn cách xử lý rõ ràng trong điều khoản thi hành.
3. Quy định cụ thể:
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho:
+ Bãi bỏ nội dung quy định trích lập dự phòng với hàng tồn kho bị hư hỏng, kém phẩm chất, lạc hậu mốt, lạc hậu kỹ thuật, lỗi thời, ứ đọng, chậm luân chuyển,… và sản phẩm dở dang, chi phí dịch vụ dở dang. Các hàng hóa thuộc đối tượng này sẽ được xử lý hủy bỏ, thanh lý trực tiếp mà không qua quá trình lập dự phòng;
+ Tuy nhiên, doanh nghiệp sẽ được phép trích lập dự phòng giảm giá cho cả những hàng hóa đang ở ngoài kho, như hàng mua đang đi đường, hàng gửi đi bán, hàng gửi ở kho bảo thuế (khoản 1 Điều 4).
+ Lược bỏ quy định: không được trích lập dự phòng trong trường hợp nguyên vật liệu có giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn so với giá gốc nhưng giá bán sản phẩm dịch vụ được sản xuất từ nguyên vật liệu này không bị giảm giá.
Dự phòng tổn thất các khoản đầu tư (Điều 5)
+ Phân loại lại đối tượng trích lập dự phòng tổng thất các khoản đầu tư gồm: các khoản đầu tư chứng khoán và các khoản đầu tư khác (theo quy định trước đây là các khoản đầu tư tài chính dài hạn).
Một trong những điểm đáng lưu ý tại Thông tư này là không còn cho phép doanh nghiệp trích lập dự phòng tổn thất đối với các khoản đầu tư ra nước ngoài (khoản 2 Điều 2, khoản 4 Điều 3). Số dư dự phòng tổn thất các khoản đầu tư ra nước ngoài mà doanh nghiệp đã trích lập (nếu có) bắt buộc phải hoàn nhập, ghi giảm chi phí tại thời điểm lập BCTC năm 2019 (khoản 5 Điều 8).
+ Lược bỏ quy định không trích lập dự phòng trong trường hợp lỗ theo kế hoạch đã được xác định trong phương án kinh doanh trước khi đầu tư do sự cần thiết trích lập dự phòng khi có khả năng mất vốn, kể cả khi đã có lỗ theo kế hoạch;
+ Bổ sung quy định doanh nghiệp được thực hiện trích lập dự phòng căn cứ theo báo cáo tài chính quý gần nhất của tổ chức kinh tế nhận vốn góp, trong trường hợp tổ chức kinh tế nhận vốn góp được phép lập báo cáo tài chính khác với thời điểm báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp góp vốn.
+ Ngoài ra, mức trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán và dự phòng tổn thất đầu tư tài chính cũng có thay đổi công thức tính so với trước.
Dự phòng nợ phải thu khó đòi (Điều 6)
+ Sửa đổi quy định, yêu cầu về hồ sơ để chứng minh nợ phải thu khó đòi theo hướng phù hợp với thực tiễn, tạo thuận lợi cho doanh nghiêp. TT 48 hướng dẫn rõ trường hợp DN không có đối chiếu công nợ. Theo đó, DN chỉ cần soạn văn bản đề nghị đối chiếu, xác nhận công nợ hoặc văn bản đòi nợ do doanh nghiệp đã gửi (có dấu bưu điện hoặc xác nhận của đơn vị chuyên phát);
+ Bổ sung quy định trong trường hợp cùng một đối tượng nợ phát sinh đồng thời cả nợ phải thu và nợ phải trả thì doanh nghiệp thực hiện trích lập dự phòng trên cơ sở số phải thu sau khi đã bù trừ khoản nợ phải trả;
+ Mặt khác, bổ sung thêm mức trích lập dự phòng phải thu khó đòi đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông và doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ hàng hóa, khoản nợ phải thu cước dịch vụ viễn thông, công nghệ thông tin, truyền hình trả sau và khoản nợ phải thu do bán lẻ hàng hóa theo hình thức trả chậm/trả góp của các đối tượng nợ là cá nhân đã quá hạn thanh toán (khoản 2 Điều 6).
Dự phòng bảo hành sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, công trình xây dựng (Điều 7)
+ Quy định đối tượng trích lập bao gồm dịch vụ đã cung cấp cho người mua còn trong thời hạn bảo hành và doanh nghiệp vẫn có nghĩa vụ phải tiếp tục bảo hành theo hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng;
+ Thay đổi cách thức xử lý khoản dự phòng bảo hành công trình xây dựng trong trường hợp số dự phòng trích lập thấp hơn số dư của dự phòng: doanh nghiệp hạch toán giảm chi phí trong kỳ (quy định trước đây là ghi nhận vào thu nhập khác).
Như vậy, TT 48 thay thế các văn bản pháp luật trước đây, với các điểm mới và các thay đổi phù hợp nhưng vẫn nhất quán với nguyên tắc chung về quản lý thuế quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế và thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật.
Tham khảo thêm về thông tư 48/2019/TT-BTC